Vai trò của Hệ thống chính trị với Quốc kế dân sinh

Hệ thống chính trị bao hàm chính quyền các cấp và các hoạt động chính trị.
Chính quyền, một cách khái quát là khái niệm mô tả việc tổ chức các cơ quan lập pháp (như quốc hội), cơ quan hành pháp (như bộ máy chính phủ) và các cơ quan tư pháp (như tòa án) và mối quan hệ giữa các cơ quan này trong bộ máy hành chính quốc gia.
Quốc kế dân sinh là sự khái quát hóa tất thảy những vấn đề quan trọng cho cải thiện đời sống nhân dân và cho xây dựng một Nhà Nước pháp quyền vững mạnh.

Một hệ thống chính trị cụ thể được phân tích, đánh giá bằng xem xét hệ thống đó trả lời 4 câu hỏi lớn: Cách thức tổ chức, phân chia quyền lực Nhà Nước ra sao ? Mẫu người nào sẽ nắm quyền lực Nhà Nước ? Cách thức người ta quản lý vấn đề tôn giáo ra sao ? Sự tác động và ảnh hưởng của chính quyền đối với người dân và nền kinh tế quốc gia thế nào ?

1. Cách thức tổ chức, phân chia quyền lực Nhà Nước ra sao ?

Trước hết, quyền lực Nhà Nước phải được phân chia cho ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp, sao cho mỗi cơ quan này chỉ được giao một số quyền hạn chế nhất định, nhưng phải có quyền giám sát, kiểm tra các cơ quan khác một cách độc lập. Cách thức tổ chức bộ máy Nhà Nước nêu trên được xem là điều kiện tiên quyết để thực thi chế độ dân chủ, tránh lạm dụng quyền lực Nhà nước, cũng như hạn chế tối đa việc trục lợi bất chính trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật; Hạn chế trục lợi trong quá trình hướng dẫn và thực thi pháp luật; Hạn chế trục lợi trong cả quá trình thực hành công vụ của các viên chức Nhà Nước.

Ngày nay, đảm bảo tính độc lập và cân đối quyền lực, đảm bảo sự kiểm tra chéo lẫn nhau giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đã được hầu hết các quốc gia dân chủ định rõ trong Hiến pháp quốc gia.

Ví dụ: Hệ thống Lập pháp và Hành pháp có quyền soạn thảo và ban hành Luật pháp, có quyền bổ nhiệm các chức danh Tư pháp, nhưng Hệ thống Tư pháp ( chỉ khi áp dụng chế độ bổ nhiệm suốt đời các chức danh Tư pháp, nhằm tránh tạo ra quan hệ ràng buộc với người có quyền bổ nhiệm họ ) lại có quyền phán quyết về tính hợp hiến của các điều luật do Hệ thống Lập pháp ban hành, tính hợp pháp và hợp hiến của các hoạt động cũng như các văn bản pháp quy do Hệ thống Hành pháp ban hành; Hệ thống Lập pháp có quyền phế truốt quyền lực của người đứng đầu bộ máy Hành pháp, nhưng người đứng đầu Hành pháp lại có quyền triệu tập các phiên họp bất thường của Hệ thống Lập pháp để xem xét những vấn đề phát sinh từ chính Hệ thống này; …

Không có bất kỳ cá nhân, tổ chức nào được phép “đứng trên pháp luật”, cũng như có quyền làm thay thế, hay làm thay đổi quyền hạn và trách nhiệm của Hệ thống Lập pháp, Hành pháp hay Tư pháp đã được định rõ trong Hiến pháp – Đây cũng là một nguyên tắc để xây dựng Nhà nước Pháp quyền. Nếu tại một quốc gia nào đó lại nuôi dưỡng, dung túng cho một tổ chức nào đó, có quyền lực không bị hạn chế, thì tổ chức có quyền như thế, lập tức trở thành phương tiện để người ta mượn danh nghĩa của nó để tạo ra sự lạm quyền, trục lợi và thậm chí để hợp pháp hóa cả những hành vi vi phạm pháp luật của họ.

Ví dụ: Tổ chức Đảng cộng sản trong Hệ thống chính trị Việt Nam cũng là dạng tổ chức “siêu quyền lực”, vì vậy người ta thường xuyên sử dụng nó:
– Để “thoát tội khi phạm khuyết điểm”. Vì tôi chỉ làm theo nghị quyết;
– Để “chia đều những thành quả lao động, những hy sinh sương máu của Nhân dân”. Do đảng lãnh đạo tất thảy những “thành quả”;
– Để “trì hoãn giải quyết những vấn đề cấp bách”. Vì cần nghị quyết của đảng mới giải quyết được;
– Để “xã hội hóa những khuyết điểm của cơ quan Công quyền”.Ví dụ: xe bị cháy nổ là do xe và chủ xe, chứ không phải xăng;
– Để “đánh đồng Nhân dân với Đảng”. Quyền lợi của đảng được nói là quyền lợi của dân;
– Để “biện minh cho lý do tồn tại của mình bằng khái niệm Thế lực thù địch”. Những chuyện xấu xa là do kẻ thù phá hoại, chứ không phải do sự yếu kém từ bộ máy Nhà nước;
– Để “triệt hạ những cá nhân không tuân theo các quyết định của Chính quyền một cách vô căn cứ pháp luật”. Người ta sẵn sàng tạo ra các nghị quyết để khai trừ đảng, để thuyên chuyển công tác, để cho nghỉ việc, …;
– …

2. Mẫu người nào được lựa chọn để lãnh đạo Nhà nước ?

Ngày nay, mọi Đảng phái chính trị trên thế giới đều tuyên bố lựa chọn người tài-đức đảm nhận chức vụ lãnh đạo Nhà Nước. Bởi vì, người tài-đức thì không làm việc “thất đức”, ít phạm sai sót, nhanh chóng phát hiện sai sót và sửa sai cũng nhanh; Còn người có ít tài-đức thì sẵn sàng làm những việc “thất đức”, hay mắc phải sai sót, chậm phát hiện sai sót và sửa sai cũng chậm. Nếu thực tế diễn ra đúng như những gì một Hệ thống chính trị tuyên bố thì chẳng cần bàn luận thêm gì nữa.

Tuy nhiên, thực tế có thể không giống như tuyên bố của các Đảng phái chính trị – Vấn đề là phương cách tuyển chọn người tài-đức ra sao ? Chứ không phải những gì mà một Đảng phái chính trị đã công bố.

Thật vậy, trong một quốc gia độc lập, các thực hành dân chủ mang tính phổ biến, người đứng đầu Nhà nước sẽ được người dân trực tiếp bầu chọn – Mẫu người này nhất định là “sản phẩm có chất lượng cao nhất” theo nghĩa được đa số người dân lựa chọn. Ngược lại, trong một quốc mà các thực hành dân chủ chưa mang tính phổ biến, hoặc trong một quốc gia thiếu tự chủ, người đứng đầu Nhà nước không được người dân trực tiếp lựa chọn, họ nhất định sẽ không thể là lựa chọn của đa số người dân, có thể họ chỉ đơn thuần được chính Đảng phái chính trị của mình sắp đặt mà thôi.

Như vậy, thực hành dân chủ trong quá trình bầu cử người đứng đầu Nhà nước là tiêu chuẩn khái quát nhất để lựa chọn và để tìm được người tài-đức và có nguyện vọng làm lãnh đạo bộ máy Nhà nước. Người nắm giữ các chức danh khác trong Chính quyền, lần lượt từ trên xuống, cũng sẽ được tuyển lựa theo cách người ta tuyển lựa người đứng đầu mà thôi.

3. Cách thức quản lý, giải quyết vấn đề tôn giáo ra sao ?

Điều 18, Bản Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người năm 1948 đã định rõ “Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay trong chỗ riêng tư, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phụng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.” Tự do về tư tưởng, nhận thức và tôn giáo là đặc tính cố hữu của một cá nhân con người, không ai có thể chế ngự, áp đặt những thứ đó cho người khác.

Thật vậy, các cá nhân con người vốn dĩ khác nhau từ hình dạng, cấu tạo thân thể cho đến tư tưởng, tình cảm. Vì vậy, người ta không thể áp đặt cho nhau về cấu tạo thân thể, cũng như áp đặt tư tường, tình cảm. Điều duy nhất mà người ta có thể làm là tạo ra sự đồng thuận tạm thời về từng vấn đề cụ thể, tại những hoàn cảnh cụ thể, và với thời gian cụ thể mà thôi. Có thể nói rằng, quyền tự do tôn giáo – đức tin – sự nhận thức cá nhân cũng như các quyền cơ bản khác của con người là thứ mà người dân có thể tạm thời cho Chính quyền lấy đi, chứ không thể lấy đi mãi mãi được.

Khi ai đó sử dụng quyền lực chính trị để áp đặt tư tưởng cho người dân thì sẽ đẩy 3/4 dân chúng vào trạng thái thường xuyên căng thẳng về tinh thần, bởi vì:
Một là buộc người ta tuân theo sự áp đặt và phản bội lại chính tư tưởng của mình;
Hai là buộc người ta trung thực với tư tưởng của mình và tất nhiên là chống trả sự áp đặt;
Ba là buộc người ta phải gian dối trong việc tuân theo, nhưng tư tưởng thực là không theo – Tức là đồng thời tự dối mình và dối cả người khác;
Bốn là người ta hoàn toàn đồng tình và tự nguyện tuân theo sự áp đặt.

Điều rõ ràng là, không có mẫu người nào trong cả 4 loại trên, đồng thời được thế giới và cả chính quyền trong nước tôn vinh. Trong môi trường đó, không đáng để đặt ra câu hỏi tại sao một quốc gia thiếu dân chủ, một quốc gia mà những lao động vừa giản đơn vừa vô ích như “cán bộ tuyên giáo” vẫn được Chính quyền trả lương, một quốc gia mà người ta tạo ra cả một Hệ thống lý luận biện minh cho sự độc ác và giả dối, một quốc gia mà nếu không tự khen mình như một kẻ “vô liêm sỷ” thì Chính quyền của nó chẳng ai khen … lại thiếu vắng những Nhà văn hóa lớn ?

Con số “có bao nhiêu người hoàn toàn đồng tình và tự nguyện tuân theo các áp đặt tinh thần” sẽ nói lên chất lượng cuộc sống của một xã hội. Một tỷ lệ số người tự nguyện tuân theo các áp đặt tinh thần ở mức cao, cho biết xã hội mà ta đang xem xét còn rất thấp kém về phát triển con người. Vì vậy, nếu những Kẻ có quyền áp đặt mà phấn khởi với những con số thống kê cao thì họ nhất định chỉ có thể là: “hoặc là kẻ dốt nát và thiếu văn hóa, hoặc là kẻ bất lương”. Như mọi người đã biết, vị Tổng thống Iraq giai đoạn từ 1979 – 2003 là Saddām Hussein thường có kết quả phiếu bầu cử đạt 100% là ví dụ cho một kẻ bất lương, chứ không phải ví dụ về sự cao đẹp.

Khi các cơ quan Nhà Nước chiếm đoạt cả các quyền căn bản của người dân như quyền về tài sản, quyền làm việc, quyền cư trú, quyền được bảo đảm an toàn, … thì tham nhũng lại là hậu quả tất yếu xảy ra, bắt nguồn từ sự không hạn chế quyền lực đối với các cơ quan thuộc Hệ thống chính trị. Như mọi người đã biết, việc cấp sổ đỏ về đất đai, cấp giấy đăng ký các động sản khác như xe, máy, … với chi phí rất cao và với cơ chế cho phép Chính quyền “tùy cơ áp dụng”, đồng thời không thừa nhận có đa sở hữu về đất đai, … là nguyên nhân để các cơ quan có quyền ra quyết định tìm cách trục lợi ngay chính trong quá trình cấp giấy này.

4. Sự tác động và ảnh hưởng của chính quyền đối với người dân và nền kinh tế quốc gia thế nào ?

Nếu như Cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước, Cách thức tuyển chọn người đứng đầu Nhà nước, Cách thức giải quyết vấn đề tôn giáo là Tiên đề cho xác lập một xã hội dân chủ, thì sự tác động và ảnh hưởng của chính quyền đối với người dân và nền kinh tế quốc gia, lại là kết quả trực tiếp từ những Tiên đề đó, sự ảnh hưởng còn bao gồm cả vấn đề kỹ trị quốc gia.

Trước hết, cũng giống như các loại hình tổ chức khác, Hệ thống chính trị phải chi phí khá lớn để thực thi các hoạt động, vì vậy các chi phí này lại ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tiêu dùng, đầu tư và tích lũy của cả nền kinh tế. Ví dụ: Năm 2011, các chi tiêu của Chính phủ Việt Nam đạt gần 40 tỷ USD, trong khi Tổng sản phẩm trong nước GDP khoảng 278 tỷ USD – Như vậy, Tỷ lệ chi tiêu của Chính phủ = 40/278 > 14% GDP. Vì vậy, chỉ xét riêng vấn đề Chính phủ chi tiêu cho cái gì ? như thế nào ? đã làm nên cách thức mà Chính phủ phủ ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia thế nào rồi.

Chính phủ còn ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia thông qua các chính sách, các chế tài pháp luật, như: Chính sách Tài chính, Chính sách Tiền tệ, Chính sách Thuế, Chính sách An sinh-Phúc lợi Xã Hội, các khung pháp lý để người dân có thể phát triển kinh doanh, … sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi mưu sinh và hoạt động kinh tế của người dân.

Thêm vào đó, tính minh bạch của các quyết định và quá trình ra quyết định; Mức độ thất thoát tài sản và tình trạng thất thu ( thuế ); Cơ hội có thể quan liêu, nhũng nhiễu từ các viên chức Chính quyền,… lại là những yếu tố có thể làm cho những chính sách tích cực của Chính phủ, nếu có, cũng không thể hiện trong thực tế được.

Một điều dễ nhận biết là, một Chính quyền không thể kiểm soát được các hành vi tham nhũng, hành vi trục lợi từ chính sách, trục lợi từ địa vị chính trị, … thì mọi chính sách có dụng ý tốt của Chính phủ cũng chỉ là “giáo điều và mị dân” mà thôi, chứ chưa nói đến những sự tồi tệ thêm sẽ đến với người dân. Bởi vì, sự hình thành các nhóm lợi ích cục bộ, bao gồm những đối tượng cùng hưởng lợi từ cơ chế, từ các chính sách là lẽ tự nhiên, thậm chí khi nhóm lợi ích này lớn lên, họ còn có thể làm thay đổi, hoặc đề ra các chính sách mới có lợi chỉ cho riêng nhóm lợi ích của họ “một cách hợp pháp”.

Để đảm bảo rằng Chính phủ có ảnh hưởng tích cực đối với quốc kế dân sinh thì điều quan trọng là phải giảm thiểu quyền lực Nhà Nước và tăng quyền cho công dân bằng cách trả lại người dân các quyền cơ bản của con người. Các vấn đề khác như: Tăng minh bạch trong quá trình ra quyết định, giảm thiểu tình trạng nhũng nhiễu và trục lợi từ chính sách, từ địa vị chính trị … sẽ là hệ quả tất yếu có được từ quá trình làm gia tăng quyền công dân, hay quá trình dân chủ hóa.

Ngày 23/5/2012
Ncphuong

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s