ĐCSVN phải chịu trách nhiệm

Như đã biết, ý tưởng thành lập tập đoàn kinh tế không chỉ đến từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Năm 1994, các nhà lý luận coi việc phát triển kinh tế tư nhân đang làm “chệch hướng”. Vì vậy, sau Hội nghị giữa nhiệm kỳ tháng 01/1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.

Hội nghị TW3 khóa IX từ 13-22/8/2001 (Ảnh: TTXVN)

Nhưng từ 1994 cho đến 2005, chưa có tập đoàn nào được thành lập theo quyết định 91. Cuối nhiệm kỳ thứ II, Thủ tướng Phan Văn Khải cho lập 3 Tập đoàn: Ngày 26-12-2005, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09-01-2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Ngày 15-5-2006, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin. Thủ tướng Phan Văn Khải cũng là người quyết định cho Vinashin vay 700 triệu USD từ tiền bán trái phiếu chính phủ. Ông Khải cho rằng, Việt Nam, một nước có hơn 3000 km bờ biển không thể không phát triển ngành vận tải biển. Các khai thác tiềm lực biển là không sai, nhưng lý do đầu tư hính thành các Tập đoàn kinh tế quốc doanh lại phải kể đến ý tưởng của cả Ban chấp hành TW đảng khi mong muốn tạo ra những “quả đấm thép”.

Ông Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng ngày 27-6-2006. Ngày 29-8-2006, thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia VN; Ngày 30-10-2006 cho thành lập thêm Tập đoàn Công nghiệp Cao su…. Từ đó cho đến năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục đẩy con số tập đoàn từ 5 lên tới 13.
Như đã biết, nghị quyết TW3 khóa IX (họp từ ngày 13 – 22/7/2001) đã nêu rõ “ Thành lập một số Tập đoàn kinh tế Nhà nước trên cơ sở các Tổng công ty Nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh…” – Bấm xem thêm tại  cand.com.vn.

Sau 8 năm năm thực hiện Nghị quyết hội nghị TW3 khóa IX và Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11 của Bộ chính trị về “Hội nhập kinh tế quốc tế“. Bắt đầu từ năm 2009, với làn sóng suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam vốn dựa vào xuất khẩu (chiếm 60-70%GDP) đã chịu thiệt hại rất lớn. Tuy nhiên, điều đó không thể là nguyên nhân chính, khi mà kinh tế thế giới đã hồi phục từ hơn một năm trở lại đây, đặc biệt là các nước khác trong khu vực Đông Nam Á Asean. Còn tại Việt Nam, dường như vẫn không nhìn thấy tín hiệu tích cực.
Có người lại nói, hậu quả kinh tế ngày hôm nay là do sự yếu kém trong điều hành Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Họ cho rằng, Thủ tướng Dũng đã “cho phép Tập đoàn kinh tế Nhà nước đầu tư kinh doanh đa ngành”. Điều đó không sai, nhưng cũng không thể là nguyên nhân chính, khi mà nghị quyết TW3 cũng khẳng định Tập đoàn kinh doanh đa ngành. Điều đáng tiếc là, những nhận xét kiểu như trên lại được khá nhiều người đồng ý tán thành.

Nguyên nhân chính phải là ý tưởng thành lập các Tập đoàn kinh tế theo Nghị quyết hội nghị TW3 khóa IX đã nêu trên. Tiếp đến là cái nhìn hạn hẹp, nông cạn của những thành viên Ban đổi mới doanh nghiệp Nhà nước của Chính phủ. Cụ thể là:

Thứ nhất, Ban chấp hành TW đảng đã có ý đồ tạo ra những Tập đoàn kinh tế mạnh, trong khi các Tổng công ty Nhà nước chưa hội đủ các yếu tố căn bản nhất của một Tập đoàn như: Thời gian và kinh nghiệm; Công nghệ và phương pháp; Trình độ quản lý và chuyên môn hóa; … Trong khi sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cá nhân quản lý doanh nghiệp gần như không có (do lãnh đạo doanh nghiệp không phải người sở hữu đích thực). Điều này cho biết, sẽ không thể có loại Thủ tường chính phủ nào có thể quản lý nổi.

Thứ hai, Nhà nước cố gắng tạo ra một môi trường thuận lợi cho các Doanh nghiệp Nhà nước (vốn, thuê đất, cơ hội kinh doanh). Tuy nhiên, mọi loại hình doanh nghiệp vẫn phải do các cá nhân quản lý, và người quản lý những doanh nghiệp này dễ dàng trục lợi từ các ưu đãi đó. Đây chính là lý do cho biết Tổng dư nợ của khối doanh nghiệp Nhà nước lên tới 415.000 tỷ đồng, nhiều triệu m2 đất được thuê với giá rẻ và có vị trí thuận lợi đến mức chỉ cần cho thuê lại cũng nuôi sống cả một Công ty, … Trong khi các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư và sử dụng vốn, khả năng giải quyết việc làm, … đều thấp hơn các khu vực tư doanh và đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Thứ ba, Nhà nước cố gắng lợi dụng vị thế của mình để ấn định giá bán cổ phiếu phát hành lần đầu của các doanh nghiệp Nhà nước quá cao. Điều đó đã thu lợi trước mắt trong các năm 2005, 2006, 2007 và 2008. Nhưng nay thì không thể, vì người dân đã cảnh giác với mọi mức giá chào bán cổ phần tại Việt Nam. Trong khi đó, các doanh nghiệp Nhà nước cũng không thể bán hay niêm yết trên thị trường quốc tế. Điều này đã khiến cho từ năm 2009 –>nay, hầu như không thể cổ phần hóa thêm doanh nghiệp Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước đã mất thu hàng triệu tỷ đồng từ hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu, đồng thời quá trình cổ phần hóa tiếp tục bị đình trệ.

Sau những hậu quả tai hại từ các sai lầm của tư duy và hành động. Đảng cộng sản đang tìm mọi cách để “đổ thừa” trách nhiệm cho ai đó. Tuy nhiên, trí tuệ của lợn chỉ có thể lừa được lợn, chứ sao lừa được loài khác!

10/9/2012
ncphuong

2 thoughts on “ĐCSVN phải chịu trách nhiệm

  1. Những kẻ vô học làm kinh tế thì nền kinh tế nát như tương là chuyện hiển nhiên.
    Lỗi ở đây có thể tóm tắt bằng 1 câu ngắn gọn : lỗi hệ thống.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s