Cái giá của “còn đảng còn mình”

Người ta không thể tìm ra bất kỳ tình tiết nào được gọi là "phát triển bền vững" từ bức hình này

Người ta không thể tìm ra bất kỳ tình tiết nào được gọi là “phát triển bền vững” từ bức hình này

Khi người ta đồng nhất đời sống người dân với đời sống của 3 triệu cán bộ viên chức, đồng thời người ta chỉ nỗ lực xoay sở để làm yên lòng 3 triệu đồng chí dân ấy, thì cái giá để trả cho sự “yên ấm” kiểu đó đã làm cạn kiệt nguồn lực quốc gia, và chưa có dấu hiệu sẽ sớm kết thúc.

Doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Thật vậy, những con mọt sách nghiên cứu về Kinh tế – Chính trị Marxist đều học thuộc lòng: “Lực lượng sản xuất quyết định tính chất và trình độ của quan hệ sản xuất” và “Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng”. Cơ sở hạ tầng nói tới ở đây là cơ sở hạ tầng của Chủ nghĩa Xã hội, còn kiến trúc thượng tầng là Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa. Vấn đề là, làm gì có Chủ nghĩa Xã hội hay Chủ nghĩa Cộng sản mà nỗ lực tạo ra cái cơ sở hạ tầng đó? Thậm chí xây nó từ khi xã hội phải nhập khẩu đủ mọi thứ, cả kiến thức và cả các loại công nghệ sản xuất thì chẳng khác gì kẻ điên dại.

Nếu vậy, tại sao lại đầu tư nguồn lực quốc gia vào Doanh nghiệp Nhà nước, để rồi tìm kiếm hơn nửa thế kỷ mà vẫn chưa kiếm ra người sở hữu khối tài sản Nhà nước đó? Cử người đại diện cho chủ sở hữu ư? Cắt cử người làm đại diện chủ sở hữu tài sản Nhà nước là không khó, cũng chưa thấy ai từ chối bao giờ. Tuy nhiên, nếu xảy ra thất thoát tài sản, tham nhũng thì làm cách nào để thu hồi tài sản?

Cử người đại diện chủ sở hữu quả thật là có ích trong việc tạo ra những báo cáo sản xuất kinh doanh “đẹp mắt” và để viên chức của nó cổ vũ nhiệt tình cho tuyên ngôn “xây dựng cơ sở hạ tầng Xã hội Chủ nghĩa là vấn đề mang tính nguyên tắc”. Nhưng, thực tế là, chính những kẻ cổ vũ ấy xúm xít nhau vào cấu xé và chia nhau từng cơ hội kiếm thêm thu nhập: Đấu thầu ư? Sử dụng dịch vụ thuê ngoài ư? Mua sắm vật tư ư? Muốn tạo ra tâm lý yên tâm ư?… Cứ yên tâm ngồi đó, chúng tôi sẽ biết cách làm cho tất cả các vị yêm tâm và biết cách tuân thủ mọi quy định pháp luật!

Bất kể tài sản gì mà đóng vai trò quan trọng cho đời sống hàng ngày của từng người, đều cần loại bỏ "sở hữu chung"

Những tài sản đóng vai trò quan trọng cho đời sống hàng ngày của từng cá nhân, đều cần loại bỏ “sở hữu chung”

Thêm vào đó, làm gì còn ai nguyện vọng “vô sản suốt đời”, kể cả trong trường hợp phúc lợi công cộng có đủ mọi thứ? Chỉ riêng cái việc đi ỉa hay đi tắm thôi, liệu có em nào lại muốn ỉa chung – tắm chung hay xếp hàng để chờ đến lượt mình không? Đó là chưa thèm kể đến 95% dân số thế giới muốn tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của người khác thì phải trả tiền, còn đạo đức hay linh hồn, dù nó có tốt đẹp đến đâu cũng không thể giao bán hay đổi lấy hàng hóa dịch vụ trên các thị trường quốc tế được.

Không cần đề cập đến học thuyết Marxist, chỉ cần xét cái quy luật nhu cầu và lòng người của Adam Smithlợi ích cá nhân là lợi ích xuất phát, lợi ích tập thể là phụ thuộc”; Hay theo Khổng TửXét đến cùng, sự tử tế của ta cũng là vì bản thân ta, vì nó từ ta mà ra” đã cho ta biết, triết lý Nhân sinh quan từ Đông sang Tây và từ cổ tới kim đã – đang và sẽ tiếp tục như thế.

Triết lý ấy đòi hỏi hạn chế tối đa bất kể thứ gì được gọi là “sở hữu chung”, đặc biệt nếu những tài sản “sở hữu chung” vẫn được từng cá nhân đánh giá là quan trọng với cuộc sống của họ. Đó là chưa kể đến thực tế không thể chứng minh ngược lại là: nhân loại chưa thể tạo ra bất kỳ nền văn minh xã hội nào đạt đến ngưỡng “chê tiền”.

Tăng lương vô điều kiện

Đòi hỏi tăng lương là chính đáng, khi một gia đình có hai người cùng là viên chức Nhà nước đã không thể thoát khỏi nỗi ám ảnh cơm – áo – gạo – tiền. Nhưng, nguyên lý kinh tế không cho phép tăng lương theo cách “vô điều kiện”. Điều kiện nói tới ở đây là tăng lương phải tiến hành đồng thời với tăng hiệu quả làm việc. Thực tế tại Việt Nam hiện nay “30% cán bộ viên chức sáng cắp ô đi, chiều mang về”, tăng lương phải kèm theo điều kiện giảm biên chế.

Khi tăng lương kèm theo yêu cầu giảm biên chế, quỹ lương có thể không tăng, đồng thời tạo ra sức ép “không được tăng biên chế” lên người đứng đầu các cơ quan đơn vị, từ đó người đứng đầu sẽ bắt buộc tuyển chọn người giỏi và thải loại những người yếu kém.

Như đã biết, hiện nay cả nước có 3 triệu cán bộ viên chức Nhà nước, nếu lấy mức lương bình quân là 5000.000 đ/người/tháng thì chi phí tiền lương của Chính phủ = 3.000.000 x 5000.000 = 15.000 tỷ đồng/tháng

Nếu Chính phủ cắt giảm 30% cán bộ viên chức thì tạo ra số tiền 30% x 15.000 tỷ = 4.500 tỷ đồng. Với 4.500 tỷ, có thể tạo ra mức tăng lương cho số cán bộ còn lại (70%x3 triệu = 2,1 triệu người) = 4.500 tỷ/2,1 triệu = 2.143.000 đồng một người/tháng.

Thực ra, con số “30% sáng cắp ô đi, chiều mang về” chỉ là con số ước đoán, chứ chưa có căn cứ xác thực? Người viết này tin rằng, nếu làm kỹ lưỡng, số cán bộ dư thừa còn lớn hơn nữa, ví dụ: Chẳng có cơ quan phê duyệt biên chế nào (thường là cấp trên trực tiếp) lại xuống đơn vị tiến hành công tác định mức lao động trước khi phê duyệt biên chế, cho nên mới xảy ra tình trạng một xã tại tỉnh Thanh Hóa có tới 500 cán bộ. Thực ra, chuẩn hóa biên chế hành chính cấp xã, phường theo số dân là điều không khó, chỉ có điều người ta không chú trọng để làm thôi, ví dụ: tiến hành làm chuẩn tại một số xã, phường để có được biên chế chuẩn, chi phí chuẩn,… từ đó ép buộc người đứng đầu các xã trong cả nước phải tự xoay sở trong khuôn khổ ấy.

Ngược lại, nếu tăng lương mà không bị ràng buộc với điều kiện phải giảm biên chế, người ta sẽ tìm cách tăng biên chế để ra ơn cho đồng nghiệp, để lấy lòng cấp trên, thay vì – đáng ra phải ưu tiên tuyển chọn người tài giỏi.

Trong khi đó, tình trạng dư thừa cán bộ không chỉ làm tăng quỹ lương và làm giảm hiệu quả công việc, mà còn làm tha hóa cán bộ viên chức, thậm chí gây bất mãn cho những cán bộ có năng lực.

Ví dụ: nếu công việc là “đi mua một chai rượu”, thì một người làm sẽ tốt hơn hai người, đơn giản vì hai người cùng đi mua một rượu, kết quả có thể sẽ không như mong đợi: có thể mỗi người mua một chai mang về thành ra thừa một chai; cũng có thể người nọ ỷ lại vào người kia, thế là chẳng có rượu để uống…

Thật vậy, nguồn nhân lực với tư cách là lao động sống, nếu không tận dụng được thì nó có thể tàn phá những thứ khác, chứ nó không thể ‘ngồi im’ giống như vật tư, máy móc. Đó cũng là điều các cụ nhà ta đã tổng kết “nhàn vi sinh bất thiện”.

Bần cùng hóa người dân

Chẳng có chính quyền nào dám thẳng thừng: tìm cách bần cùng hóa người dân, nhưng một khi nguồn lực xã hội chủ yếu được đầu tư vào hệ thống doanh nghiệp nhà nước, để nuôi một bộ máy nhà nước cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, để phục vụ phương châm “còn đảng còn mình”… thì tự nó buộc phải cắt giảm các khoản đầu tư khác có lợi cho quốc kế dân sinh. Thậm chí, với chiếc áo mang tên “còn đảng còn mình”, rất nhiều kẻ sẵn sàng phá ngang công việc làm ăn của người khác.

Khi thu không đủ bù chi, người ta tìm mọi cách để móc tiền của dân, từ việc liên tục tăng giá bán các mặt hàng do Nhà nước độc quyền, đến việc tạo ra các loại thuế-phí và cả các hình phạt, rồi việc ngân hàng Nhà nước dùng chính sách để “trấn lột” các ngân hàng thương mại thông qua độc quyền nhập khẩu và độc quyền bán lại vàng miếng… Hành vi cướp bóc, trấn lột từ xưa nay vẫn thế, dù được ngụy trang hay cố tình che giấu thì cũng chẳng thể nào làm mất đi sự đểu – giả và vô lý của ngân hàng Nhà nước được.

Những việc làm nói trên, xét đến cùng, đã tự bần cùng hóa người dân. Tuy nhiên, điều đó liệu có làm tăng danh giá cho một viên chức nhà nước? Câu trả lời là không, đơn giản vì: Để mua cái danh giá đó, ngân sách phải làm cho 3 triệu cán bộ viên chức có thể tự hào về đồng lương, trong khi đó luôn có rất nhiều cán bộ viên chức sẵn sàng bán đi cái danh đó với giá rẻ bất ngờ, ví dụ: 50 ngàn đồng để được bỏ qua một lỗi vi phạm giao thông…

Thật vậy, khi không đủ tiền làm cho cả 3 triệu viên chức có thể tự hào về mình, thì các viên chức lại tìm cách trục lợi từ vị trí công tác – đó là cái vòng luẩn quẩn: “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” mà toàn hệ thống phải gánh chịu. Toàn hệ thống luôn phải chi ra những khoản tiền khổng lồ chỉ để thuê mua một nguồn nhân lực vừa “kém chất lượng”, lại luôn biết tìm cách bán rẻ danh giá của mình.

Hãy nhìn lý lịch học tập, nghề nghiệp và kỹ năng của những nhân viên an ninh ngày nay thì thấy rõ, nó không có bất kỳ phẩm chất nào (cả sức khỏe, đạo đức và trí óc) có thể so sánh với lứa công an ra trường cách nay trên 20 năm trở về trước.

Tạo ra tham nhũng để phòng chống tham nhũng

Khi người ta có quyền tham nhũng thì người ta sẽ tham nhũng, đó là lẽ thường. Nhân loại chỉ có thể tìm ra cách kiểm soát và hạn quyền để chống tham nhũng, chứ không thể tìm ra cách phòng chống tham nhũng trong điều kiện quyền lực không bị kiểm soát. Cũng giống như trong hoạt động kinh tế, người ta chỉ có thể chống độc quyền, chứ người ta không thể tìm ra cách làm cho độc quyền tử tế hơn.

Khi thể chế chính trị tại Việt Nam tự tạo ra tham nhũng, thì việc tạo ra hết ban này, bộ kia để chuyên trách “phòng chống tham nhũng” liệu có ích gì? Dường như phòng chống tham nhũng theo cách thi thoảng khơi ra một vụ để làm gương là điều người ta mong muốn? Vì nó cho biết bộ máy Nhà nước cũng mong muốn tiến bộ!

Tuy nhiên, người có chút hiểu biết đều cho rằng, cơ hội có thể tham nhũng mới là lý do để người ta bảo vệ chế độ, chứ không phải lý thuyết Marxist, cũng không phải cái gọi là “tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”, hay chiếc áo “còn Đảng, còn mình”… Đừng nhầm!

Nói như vậy để biết, rằng nếu không còn cơ hội tham nhũng thì không có lý do chính đáng để người ta bảo vệ chế độ. Và, kẻ nào quá năng nổ trong việc phòng chống tham nhũng, thì kẻ đó ắt sẽ phải trả giá đắt. Đơn giản vì, bản chất của thể chế chính trị là dung dưỡng tham nhũng.

Chính quyền kết nghĩa với côn đồ

Khi người ta không thể nhân danh bất kỳ điều gì để có thể giải quyết các bức xúc từ người dân, người ta bèn tìm cách lột bỏ đồng phục và thuê thêm những kẻ “vô công rồi nghề” để đàn áp. Không cần biết lai lịch của những con người như thế, nhưng chẳng khó để khẳng định họ là những kẻ thấp kém về hiểu biết và đạo đức.

Một số người gọi họ là “dân giang hồ”, gọi tên như thế là chỉ đúng ở chỗ “họ hành động bất tuân pháp luật”, chứ không đúng với cái chất của dân giang hồ. Có thể nói phẩm chất điển hình của dân giang hồ là những phẩm chất mà chúng ta dễ dàng khai thác được từ các nhân vật Bố già (Vito Corleone) trong tiểu thuyết cùng tên (The Godfather), hình ảnh Cowboys miền tây nước Mỹ, hay hình ảnh các “bộ đội” tại xứ Việt Nam, … Đó là các phẩm chất: Dám làm, dám chịu; Chân thành với chiến hữu của mình; Trung thực với chính mình; Sự sang trọng, sòng phẳng và tinh thần thượng võ; Hào hiệp, trọng tình và lãng tử…

Khi những kẻ côn đồ được bộ máy an ninh bảo kê và cho phép sống ngoài vòng pháp luật, thì họ mới đủ can đảm để hành xử thô bạo với người dân. Chứ bản thân họ lại là những kẻ hèn nhát, nhu nhược, thiếu hiểu biết và thiếu hẳn những phẩm chất đáng trọng nhất của một giang hồ. Vì vậy, họ có quá nhiều yếu điểm để đánh gục.

Đồng nhất nhân dân với cán bộ viên chức

Có lẽ những quan chức nhà ta cần học lại khái niệm “nhân dân”, để tránh đồng nhất nhân dân với các đồng nghiệp cùng làm việc với mình trong cơ quan Nhà nước.

Thực tế cho biết, vì người dân không có quyền định đoạt bất kỳ chức danh nào làm việc trong bộ máy công quyền, cho nên để cầu tài – cầu lộc, cán bộ viên chức sẽ tìm kiếm sự ủng hộ từ những người cùng làm việc với mình, thay vì – đáng ra phải là tìm cách dành dật sự ủng hộ của người dân. Khi có rất nhiều người chỉ tìm cách xoay xở trong cái thực tế ấy, thì mâu thuẫn nội bộ là kết quả tất yếu và chiếc hố ngăn cách giữa người dân với các cơ quan chính quyền sẽ ngày càng được nới rộng ra. Như một hệ quả tất yếu, các viên chức Nhà nước sẽ đồng nhất đời sống người dân với đời sống của những đồng nghiệp đang làm việc tại cơ quan mình.

Đó chính là lời giải thích vì sao Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Thanh Hòa đã thản nhiên nói: “Theo các chuyên gia kinh tế thì lạm phát cũng như suy thoái kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nghèo”… Ảnh hưởng nhiều hay ít thì phải có điều tra mới kết luận được, nhưng hàng chục vụ tự sát vì đói nghèo đã xảy ra từ năm 2010 đến nay thì sao? Phải chăng, theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hòa, mạng người là thứ không đáng kể?

Thật vậy, nói ra những điều trên vào thời điểm này là quá muộn để hoán cải nó, khi mà kinh tế đã suy kiệt và uy tín chính quyền thì lụn bại, trong khi các khoản viện trợ đã ngày càng thu hẹp lại. Tuy nhiên, muốn “nói có sách, mách có chứng” thì bằng chứng phải hiện hữu. Phải chăng, sự hiện hữu trong trạng thái kinh tế suy kiệt chính là cái giá phải trả cho sự khôn lớn của hệ thống chính trị tại Việt Nam?

14/6/2013
ncphuong

One thought on “Cái giá của “còn đảng còn mình”

  1. Che do nay da qua gia roi ko ai con chap nhan duoc nua. Chi con dam quyen chuc muom niu keo thoi. Cong an chi la cong cu cua chunh thoi. Hay tinh giac di joi nhung nguoi dan viet nam

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s