Điều kiện quốc tế và Việt Nam cùng tạo thuận lợi cho Trung Quốc xâm lược

Theo loan báo của các phương tiện truyền tin trên internet, Tập đoàn Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc đã đưa giàn khoan mang số hiệu HD 981 thực hiện khoan thăm dò Dầu khí tại lô 143 của Việt Nam, vì nó năm trong vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của Việt Nam. Điều đáng bàn luận nhất là thời điểm mà họ thực hiện. Có thể nói, tình hình quốc tế, tình hình Trung Quốc và Việt Nam hoặc là tạo điều kiện, hoặc là “thúc ép” chính quyền Trung Quốc gia tăng các hoạt động xâm lược.

1.  Tình hình quốc tế

Xung đột tại Ucraina đang thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế, mà sự thu hút là ở chỗ nước Nga với tư cách là thành viên Hội đồng bảo an, thành viên của nhóm G8 là người được cho là “châm lửa” cho cuộc xung đột, đồng thời là người vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế khi dùng vũ lực thôn tính bán đảo crym, vốn thuộc chủ quyền của Ucraina. Vì vậy, về mặt truyền thông là thuận lợi thứ nhất; Thứ hai là, một kịch bản “vi phạm luật pháp quốc tế” mà Nga là ví dụ điển hình sẽ giúp Trung Quốc biện minh cho các hành vi xâm lược của họ, bởi vì mức độ “trắng trợn” của Trung Quốc dù sao vẫn thua Nga, trong khi cả hai cùng là Thường trực Hội đồng bảo an LHQ.

2. Tình hình Trung Quốc

Thời gian gần đây, các vụ việc đánh bom tại quảng trường Thiên An Môn – Thủ đô Bắc Kinh, đánh bom tại vùng tự trị Tân Cương, các hoạt động tự thiêu tại Tây Tạng,… cộng thêm với vây cánh của UVTVBCT Chu Vĩnh Khang đang bị đẩy vào tình thế “sống/mái” với chính quyền hiện thời của Đảng cộng sản Trung Quốc. Tất cả những điều nói trên tự cho biết, sự phân hóa, chia rẽ và thanh trừng trong nội bộ chính quyền Trung Quốc đang tiếp cận với sự đổ vỡ không thể kiểm soát được.

Theo cá nhân người viết này, sự đổ vỡ của chính quyền Trung Quốc là “khủng khiếp” hơn nhiều lần những gì đã xảy ra tại các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây. Đơn giản vì, Trung Quốc đã cải cách kinh tế trong khi lại không thể cải cách chính trị. Điều này không chỉ tạo ra 2 lực lượng “bảo thù” và lực lượng “đổi mới” như các nước Đông Âu và Liên Xô, mà nó tạo ra vô số nhóm lợi ích, các nhóm này có thể đồng thuận với nhau trong một số vấn đề, chứ không thể hoàn toàn đồng thuận với nhau trên mọi phương diện – Đó là điều hết sức nguy hiểm khi xảy ra “bạo loạn”.

Thêm vào đó, Trung Quốc không nỗ lực tạo gia các nấc thang giá trị theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời lại lấy phương châm “còn đảng còn mình” để chi phối hầu hết các quyết định của chính quyền, và theo đó người ta chi rất nhiều tiền cho việc “ổn định chính trị”. Vì vậy, khi không thể “ổn định” thì nó phải đổ vỡ, và đổ vỡ “khủng khiếp” hơn là điều đương nhiên.

Tuy nhiên, khi bất ổn trong nước trở thành nguy cơ hiện hữu, chính quyền Trung Quốc lại có xu hướng tạo ra các bất ôn nằm ngoài biên giới quốc gia (Thủ tướng Nhật Bản cũng có nhận định như thế). Điển hình là các xâm phạm chủ quyền của các nước có chung đường biên giới. Đây là nhận thức cần có để đưa ra các biện pháp giải quyết thích hợp nhất đối với hành vi xâm lược của Trung Quốc, đặc biệt là hoạt động của giàn khoan HD 981.

3. Tình hình Việt Nam

Theo người viết này, nếu chính quyền hiện thời phát động một cuộc chiến tranh thì ngoài mấy ông/bà hưu trí ra sẽ chẳng có người dân nào ủng hộ. Tại sao tôi nói vậy? Đơn giản vì, có quá nhiều người chứng kiến thái độ của chính quyền đối với những hy sinh của lớp người đi trước, đặc biệt là hành vi và thai độ đối với các hy sinh chống giặc Trung Quốc năm 1979. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi cho các hành động xâm lược của Trung Quốc. Tuy nhiên, Nhà nước hiện thời vẫn có hàng triệu quân nhân tại ngũ và hàng tỷ đô la trang thiết bị quân sự, kèm theo lời cam kết “bảo vệ chủ quyền”… thì dù sao chăng nữa, không được dân ủng hộ cũng vẫn phải làm.

Những việc mà chính quyền hiện nay, ít nhất vẫn có thể làm:

Thứ nhất, theo thiển ý của người viết này, xét về khía cạnh kinh doanh, sự việc một Tập đoàn kinh tế của Nhà nước thực hiện một hoạt động “phi pháp” thì điều đó là “phi kinh tế”. Đặc biệt là, hoạt động kinh tế của một Tập đoàn kinh tế thì luôn cần đến sự hợp tác, sự ủng hộ từ các chủ thể kinh tế trên thế giới. Vì vậy, chúng ta cần “đánh mạnh” vào yếu tố này. Bởi vì, khi mất uy tín, một chủ thể kinh tế sẽ bị người ta từ chối hợp tác kinh doanh, cũng như từ chối cung cấp dịch vụ. Chúng ta đã từng chứng kiến chính phủ Hoa Kỳ, Canada, Anh, Italia,… đã từ chối Tập đoàn viễn thông quân đội Huawei của Trung Quốc, khi có cáo buộc Tập đoàn này có thêm nhiệm vụ “do thám”. Đây là biện pháp cần ưu tiên sử dụng!

Thứ hai, chúng ta tiếp tục “nêu vấn đề” khi có điều kiện cho phép tại mọi diễn đàn, hội thảo, hội nghị quốc tế,.. nhằm tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Cái này rất quan trọng, bởi vì vào thời điểm hiện tại, nếu không được quốc tế ủng hộ, Việt Nam chẳng là thứ gì “đáng kể” xét trên mọi phương diện.

Thứ ba, phải xây dựng năng lực quốc phòng, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật quân sự. Người Do Thái, hay đất nước Ixaraen hiện nay cho chúng ta một tấm gương sáng trong việc bảo vệ chủ quyền và tính mạng người dân khi mà họ luôn phải thường trực 24/24 giờ trước các vụ khủng bố, ám sát, diệt trủng,… từ chính các quốc gia láng giềng của họ. Dù sao, khó khăn của Việt Nam chỉ là chủ quyền lãnh thổ + thái độ coi thường người Việt của các nước láng giềng, chứ chưa đến mức cứ thấy Việt Cộng là muốn giết như dân tộc Do Thái.

Khi đã phải nổ súng, hãy cho rằng đó là “tự vệ chính đáng”, và khi đã nổ súng, cần xóa sạch trơn tất cả những gì thuộc HD 981 (cả người và tài sản). Sự rứt khoát như vậy có 3 lợi điểm: thứ nhất, là tính răn đe với các Tập đoàn kinh tế của Trung Quốc; thứ hai, về mặt lâu dài, phương châm “lấn dần” của chính quyền Trung Quốc bị phá sản; thứ ba, tính bất ngờ, nó cho biết Việt Nam sẵn sàng quyết tử với phương châm “lấy yếu chống mạnh”.

Tất nhiên, xét về lợi ích quốc gia, khi nổ súng, trước hết cần đưa ra Thông điệp có tính răn đe ( cái này mình từng nêu ra từ năm 2012 để xử lý các hành vi kiểu như HD 981 ); kế đến, cần dành được tiếng nói bênh vực chính thức từ Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Tất nhiên, khi nổ súng như thế chúng ta cần lường trước các hành động đáp trả về mặt quân sự của Trung Quốc, đặc biệt đối với các công trình trên biển, tuy nhiên cái lý vẫn thuộc về Việt Nam khi những công trình đó đều thuộc lãnh thổ của Việt Nam, vì thế sẽ được quốc tế bênh vực, bảo vệ.

Thứ tư là “Tuyên truyền” – Theo cái cách đề cao chiến thắng Điện Biên ư? Chẳng có ích gì cho giải quyết vấn đề cả, bời vì xét một cách công bằng, nếu không có sự trợ giúp của Trung Quốc thì cả ông Hồ + ông Giáp + Đảng cộng sản VN chỉ có mà, nói hơi tục, chỉ có mà “ăn cứt”. Vào thời điểm hiện nay, cách “tuyên truyền” như thế không tạo ra bất kỳ “hào khí” nào, không muốn nói là càng làm lụn bại uy tín của chính quyền hiện tại. Đừng “thô thiển”, đừng nhầm lẫn!

Đơn giản vì, Việt Nam có lịch sử 4000 năm và có rất nhiều lời tri ân, rất nhiều trận đánh chống quân xâm lược, nhiều tấm gương không cần bất kỳ thứ học thuyết “ngoại lai – ngoại xâm” nào nó cũng đủ sáng để noi theo rồi.

Thật vậy, để “tuyên truyền” tạo ra sự thuyết phục, thưa mấy ông/bà tuyên giáo, trước hết, cần vất bỏ cái tiên đề của mọi chủ trương tuyên truyền rằng “phải có lợi cho Đảng cộng sản”. Nếu không vất bỏ được cái “tiên đề” ấy, mọi lời lẽ “tuyên truyền” đều có ít nhất 50% nói sai sự thật theo 5 cách mà nhân loại đã tổng kết: (1)Bịa đặt; (2)Nói lập lờ, nước đôi gây khó hiểu; (3)Che dấu những thông tin quan trọng; (4)Thổi phồng, phóng đại và (5)Làm giảm bớt mức độ nghiêm trọng – Tham khảo thêm trong bài viết Thành tích Năng lực dối trá của Đảng CSVN.

Có điều rõ ràng là, Trung Quốc đang nỗ lực “hợp pháp hóa” sự xâm lược với nhóm đảo Lưỡi Liềm (Crescent Group) và nhóm Bắc Đảo (Amphitrite Group) mà họ đã dùng vũ lực chiếm đoạt từ tay chính phủ Cộng hòa miền nam tháng 01/1974. Bởi vì, trước đó từ năm 1951, tại Hội nghị quốc tế được tổ chức tại San Francisco, Hoa Kỳ Thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu đã từng tuyên bố cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, vì nó là thừa kế đương nhiên từ chính quyền Thực dân Pháp tại Việt Nam, và đặc biệt là, tuyên bố này không gặp phải kháng nghị hay đề nghị bảo lưu ý kiến nào khác từ 51 nước tham dự hội nghị – Có thể nói, đây là một thành tựu mà bản thân chính quyền hiện thời tại VN cũng không thể làm được, vì vậy hãy tìm cách mà sử dụng nó. Trước đó, vào năm 1956 chính quyền Trung Quốc đã xâm lược nhóm đảo An Vĩnh phía đông quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đảo Phú Lâm ((Woody Island) là đảo trung tâm có diện tích 2,1Km2 có nhiều cây, cỏ mọc và đảo Linh Côn (Lincoln Island) có diện tích 1,6Km2, khi chính quyền Ngô Đình Diệm tại miền nam và cả chính quyền cộng sản miền bắc chưa thể đưa người và phương tiện ra đồn trú thường xuyên, nhưng theo Hiệp định Genever thì chính quyền Ngô Đình Diệm được quyền thừa kế đương nhiên với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo hiểu biết của tôi, nếu một “tranh chấp” vượt quá 50 năm mà bên có quyền lợi không khiếu nại, không kháng nghị lên các Tòa án quốc tế thì sau đó, bên chiếm hữu sẽ đương nhiên được thừa nhận hợp pháp về chủ quyền đối với các đảo, các vùng biển đó. Theo đó, những quần đảo mà Trung Quốc đã chiếm đóng từ năm 1956 thì bây giờ chẳng ai muốn, cũng chẳng ai có thể giúp VN lấy lại được nữa; còn với các nhóm đảo mà Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974 thì VN chỉ còn hơn 9 năm để nêu vấn đề ra các hội nghị quốc tế, khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế mà thôi.

Còn nếu chủ trương hữu nghị tới mức “bên kia biên giới là nhà, bên này biên giới cũng là quê hương” thì không nên tạo ra tranh chấp làm gì, thà làm tôi tớ cho đỡ mệt người! Có phải vậy không?

TP. HN, ngày 06/5/2014

ncphuong

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s